Phía sau một thước phim: hành trình về với sợi bông và chàm của người Cơ Tu, thôn Công Dồn, 2024

Nguồn cơn

Cách đây ít lâu, có một người đang chuẩn bị triển lãm “Thực vật trong đời sống văn hoá Cơ Tu” ở Bảo tàng Đà Nẵng 2 (trước đây là Bảo tàng Quảng Nam) nhắn xin phép tôi được trình chiếu video tôi quay ở Công Dồn cách đây 2 năm tại phòng trưng bày, và bạn nói đó là tư liệu quý hiếm, sống động khi tái hiện được những tri thức rất giá trị và đúng gần nhất với tri thức nguyên bản của người Cơ Tu: từ trồng bông đến kéo sợi, đốt vỏ ốc trên ống nứa để nhuộm chàm, và vẫn dùng lá cây để buộc sợi dọc trước khi dệt ikat. Bạn kể, cách đây 13 năm bạn từng đến Surin, một ngôi làng ở Thái Lan, nơi người ta đã buộc sợi bằng dây ni lông. Còn ở đây, người dân vẫn buộc bằng lá cây, đó là một điều đặc biệt hiếm có. 

Đợt này rất nhiều điều kéo tôi về với những ký ức của 2 năm trước, tôi nhớ lại cơ duyên tôi bắt đầu, những chặng đường tôi đi, những con người tôi gặp và biết bao cảm xúc thăng trầm hỉ nộ ái ố, câu chuyện lớp lang đằng sau thước phim đó. Tôi nhận ra mình chưa từng viết cả hành trình kể lại những trải nghiệm quý giá và ân tình tôi nhận được. Có điều gì vẫn còn nghẹn lại mà chắc cần được viết ra thôi, nếu không tôi vẫn thấy còn áy náy, ký ức cứ luẩn quẩn trong đầu. Thời gian trôi qua rất nhanh và có những điều sẽ đi vào quên lãng nếu tôi không ghi chép lại.

Hữu duyên

Mọi chuyện bắt đầu khi năm 2023 tôi có dịp đến thăm một làng dệt người Cơ Tu ở thôn Dhroong trong vai trò hỗ trợ cho một đoàn nghiên cứu. Tôi đặc biệt thích kỹ thuật dệt và sự đôn hậu của người dân ở đây, kỹ thuật dệt cườm và chỉ màu rất kỳ công nhưng tiếc là không còn dùng sợi bông và cũng không còn nhuộm chàm, ngày xưa các bà biết làm nhưng giờ các bà già yếu không làm được nữa. Tôi ấp ủ ý tưởng về workshop tour đưa mọi người về thăm làng nghề người Cơ Tu, không chỉ học dệt mà còn tìm hiểu sợi bông, nhuộm chàm, những tri thức bản địa xa xưa. Tôi nghĩ nếu những điều ấy mất đi thì thật đáng tiếc. Sau khi tìm hiểu trên báo, tôi biết về thôn Công Dồn, nơi duy nhất ở Quảng Nam vẫn còn trồng bông, nhuộm chàm, và đặc biệt còn có dệt ikat sợi dọc tạo hoa văn gợn sóng. Năm 2024, khi biết đến quỹ tài trợ nhỏ trong chương trình Di sản kết nối của Hội đồng Anh, tôi viết dự án cùng kết hợp với một nhóm cộng sự gồm chị Quỳnh, Phúc, a Thắng, Mạnh – những người thiết kế, chụp ảnh quay phim, đang sống và làm việc ở Hội An. Kế hoạch trên giấy khá ngắn gọn, trong vòng 5-6 tháng sẽ tổ chức hai chuyến thực địa, một buổi showcase trưng bày phim ảnh và thiết kế mới ở Hội An/ Đà Nẵng, một workshop tour về làng nghề Cơ Tu ở thôn Dhroong và Công Dồn, nhưng thực tế thì bao điều phát sinh ngoài kế hoạch.

Chuyến đi đầu, đoàn chúng tôi đến thăm Dhroong tìm hiểu nguồn nguyên liệu, chụp ảnh quay phim, ghi chép tư liệu; sau đó ngủ lại thôn Brohoong cách Dhroong 13km ở ACu Homestay. Hôm sau chúng tôi ghé Zơ Ra nơi được FIDR hỗ trợ phát triển sản phẩm dệt và du lịch cộng đồng, rồi dự định đến Công Dồn nhưng vì đường lên rất xấu, trời mưa, xe hỏng dọc đường, và quan trọng là tôi chưa tìm được đầu mối liên lạc nên chúng tôi quyết định về. Sau đó, bằng sừ trùng hợp tình cờ thế nào mà Thảo, cô bạn thân từ thuở nhỏ của tôi ở tận bên Anh, sau khi nghe tôi kể chuyện thì đã kết nối giúp tôi với chị Hà ở Bảo tàng Đà Nẵng cũng đang làm nghiên cứu sinh và sống cùng thành phố ở Anh với Thảo, chị giúp tôi liên lạc với anh Sơn làm ở Bảo tàng Quảng Nam, người có kinh nghiệm lâu năm làm việc với các nhóm dân tộc tỉnh Quảng Nam. Và anh đã đồng ý cùng tôi đi chuyến công tác thực địa tới Công Dồn.

Đường đi tới Công Dồn xấu thực sự, vượt xa tưởng tượng của tôi, 50km cuối cùng thực sự rất khó đi bởi xe quặng chở phá đường. Nơi đầu tiên chúng tôi tới là UBND xã để xin phép với chính quyền địa phương, nhờ cán bộ xã dẫn chúng tôi gặp những người còn làm bông nhuộm chàm, tôi được gặp bà Bling Hia, bà Pá, và bà Hia cho chúng tôi xem cây bông và những tấm vải bông nhuộm chàm, có tấm dệt cườm, có tấm dệt ikat sóng lượn, trong thôn chắc chỉ còn vài người biết làm. Bà Pá đã già yếu không mấy khi nhuộm, còn Bà Hia mới nhuộm tháng trước nên giờ còn ít nguyên liệu. Từ lúc chúng tôi tới thì trời mưa như trút nước, bà nói phải đợi trời nắng để còn đốt vỏ ốc, bà lại đang đau lưng nên con bà không muốn cho mẹ làm. Hy vọng duy nhất của tôi là bà Hia và cách duy nhất tôi có thể liên lạc với bà là qua em Thuận, con dâu sống cùng bà, có gì cần em dịch lại tiếng Cơ Tu cho bà. Chuyến đi cũng giúp tôi làm quen với Hạnh, người nấu ăn hậu cần cho Uỷ ban, và chồng Hạnh là Hiền cũng đang làm cán bộ xã, vì chúng tôi cả 3 người bằng tuổi nhau nên nhanh chóng bắt sóng nói chuyện rất hợp cạ nhau. Hạnh nói bao giờ tôi quay lại đây thì đến ở nhà Hạnh, sau Hạnh rủ tôi qua nhà chơi. Công Dồn vẫn có nhiều nơi không có điện, sóng yếu, điện thoại tôi dùng Vina lên đó là mất sóng. Trong Uỷ ban và chỗ nhà bà Hia có điện và sóng wifi, con trai bà Hia làm bên điện lực nên nhà bà có lắp internet, nhưng nhà Hạnh cách đó tầm 5 km thì không có, buổi tối cả nhà chỉ có một bóng điện chạy bằng năng lượng mặt trời. Cả thôn không có homestay, nơi duy nhất có thể ở lại là có phòng nghỉ của cán bộ ở Uỷ ban xã. Còn nếu muốn tìm nhà nghỉ thì phải tầm 10km, mà đi đường rừng heo hút quanh co chắc cũng cả tiếng.

Sau chuyến đi thứ hai, tôi khá hoang mang, vì kế hoạch chỉ đi 2 chuyến mà giờ sau 2 chuyến tôi vẫn chưa nhìn thấy người Cơ Tu nhuộm chàm. Tôi không biết nên đi tiếp thế nào. Dhroong thì thuận tiện đi lại hơn, nhưng không còn ai trồng bông và nhuộm nữa. Công Dồn thì đường xa, khó đi, vẫn còn người làm nhưng rất ít, phụ thuộc vào sức khỏe của các bà, vào thời tiết, vào nguyên liệu lúc có lúc không. Những lúc chênh vênh, điểm neo với tôi đó là ngày nào cũng ra biển, như một cách vỗ về tôi. Rồi có một cơ duyên tôi được gặp sư cô, sư cô ở một mình trên núi gần suối, tự trồng cây rồi cúng dường cho mọi người, sư cô rủ tôi lên chỗ sư cô ở vài hôm cho đầu óc nhẹ nhõm. Sư cô nấu cho tôi ăn, tôi quét sân, tưới cây, bóc hoa quả giúp sư cô. Nghe tôi kể chuyện tôi đang chưa biết nên làm biết thế nào, sư cô nói: cái gì thuận thì tự nhiên sẽ đến, còn nếu chưa đến thì có thể duyên chưa tới. Con cứ thành tâm cầu nguyện, xin Phật soi đường chỉ lối, sư cô tin vào sự màu nhiệm của Phật, cuộc đời sư cô đã chứng nghiệm điều đó. Sau khi ở vài hôm với sư cô, tôi quyết định quay trở lại Công Dồn dù chưa biết phía trước thế nào.

Màu nhiệm

Tôi gọi cho Hạnh, báo rằng tôi sẽ bắt xe khách từ Đà Nẵng lên. Vợ chồng Hạnh đang về Thạch Mỹ thăm nhà ngoại. Hạnh bảo trưa tôi đến cứ ngồi đợi ở ngã ba Chà Val, khi nào hai vợ chồng về đến thì sẽ đón tôi cùng về nhà. Trong túi tôi lúc đó mang theo ống sợi bông và cao chàm do chị Quỳnh đặt mua giúp. Xe khách chạy như đang nhảy lambada, anh lái xe quay sang tôi cười bảo: “Đi xe ở đây là sướng nhất rồi em. Vừa đi xe mà như vừa đi vũ trường, còn gì bằng.” Tôi bật cười theo, tôi nói “Anh lạc quan thật đấy, đi đường xấu thế này mà ngày nào cũng đi chắc mệt lắm anh nhỉ”. Anh bảo: “Đi nhiều thành quen, không đi là nhớ, đi cả chục năm rồi quen mặt khách luôn rồi. Đường xấu này có lúc xe hỏng tắc đường phải đợi hôm sau đi tiếp”. Công nhận may tôi khỏe và quen đi xe đường rừng núi sau 2 năm ở Điện Biên, chứ trên xe tôi thấy nhiều người nôn ọe rồi. Được cái cảnh núi rừng rất đẹp, ở đây chắc chẳng cần đi đâu xa để săn mây, tôi thấy mây bồng bềnh đẹp lắm rồi.

Tôi đến ngã ba Chà Val khoảng mười hai giờ trưa, đi hết khoảng 5 tiếng, may hôm nay không bị kẹt và tắc đường. Trong lúc đợi vợ chồng nhà Hạnh tới đón, tôi ăn trưa ở quán ăn ngay ngã ba Chà Val, tôi cũng thấy nhiều người đang ngồi đợi ở đây để đi chuyến chiều về Đà Nẵng, hoặc từ đây xe đi tiếp còn 20km sẽ tới cửa khẩu biên giới Lào. Quán ăn giờ trưa đông người, tôi nghe mọi người nói tiếng Cơ Tu, có nhóm cán bộ bên điện lực lên lắp đặt nói tiếng Kinh tôi còn hiểu chút. Tôi thấy mình lạc giữa khung cảnh huyên náo nơi thị trấn nhỏ, tiếng trẻ con khóc, tiếng người cười người nói rôm rả. Tôi tranh thủ ghé qua nhà nghỉ gần đó để xem phòng, nếu sau này có đưa mọi người lên chắc sẽ thuê nhà nghỉ ở đây. Từ đây vào nhà Hạnh còn khoảng 7km, và từ nhà Hạnh vào đến nhà bà Bling Hia khoảng 5km nữa. Một lúc sau vợ chồng Hạnh đến và đèo tôi về nhà. Ngồi sau xe máy gió thổi vào mặt mát lạnh, cái không khí núi rừng trong lành làm tôi đỡ mệt hẳn sau một chặng đường dài. Chúng tôi vừa tới nhà Hạnh thì trời mưa, vợ chồng Hạnh bảo may về kịp lấy quần áo vào, xong Hiền cười bảo “Huyền cứ đến là trời mưa nhỉ. Mưa như thế là điềm lành đấy”. Thấy chúng tôi về hai con cún mừng quýnh, một con lông vàng thì tên Đen, và một con lông đen thì tên Cún, con Cún hiền và mến khách, thấy tôi tới là phe phẩy đuôi rồi loe ngoe theo bám chơi, con Đen thì dửng dưng hơn. 

Hai vợ chồng Hạnh đều làm ở Uỷ ban xã, nhưng ngoài giờ làm còn làm nông, nuôi lợn, nuôi vịt, buôn bán đủ thứ. Hạnh còn biết dùng lá cây đắp để chữa bệnh, điều mà Hạnh nói được Bà cho Lộc trong một giấc mơ “Hạnh nằm mơ thấy Bà, tóc dài màu trắng, chỉ cho Hạnh hơ lá đắp chữa bệnh giúp người nghèo không có điều kiện”. Từ đó Hạnh đốt lá rồi đắp lên chỗ đau để giúp người ta, chỉ ai được bà cho lộc mới làm được. Cây tiếng Cơ Tu là “và vấc”, còn tiếng Kinh là “từ bi”. Hai vợ chồng Hạnh có 2 đứa con, đứa con gái lớn đang học cấp ba nội trú ở thị trấn, còn cậu con trai nhỏ học cấp 2 ở gần nhà. Chúng tôi về được lúc thì thấy có 3 cô chú đi rừng về, Hạnh bảo đây là các cô chú ở Đại Hưng làm thuê đi rừng chặt lá nón, ở mỗi nơi chừng tháng, hết lá thì chuyển sang nơi khác. Họ dậy từ sáng sớm, nấu cơm, nắm cơm mang theo, rồi đi cả ngày, buổi trưa vẫn làm không nghỉ. Vợ chồng Hạnh thấy họ vất vả, ăn uống đơn sơ, nên cho họ ở nhờ cũng 10 năm rồi. Phòng tôi ở sẽ là phòng con gái Hạnh, ngủ chung cùng với một cô. Ở đây mọi người đều tắm nước lạnh, tôi ra thau múc nước vào chậu rồi bê vào phòng tắm được dựng ở ngoài nhà, gió thổi qua khe mát lạnh cả người. Tôi tắm rửa xong xuôi là Hạnh đã nấu cơm xong. Tôi thấy Hạnh liên tay liên chân, cho gà cho lợn cho vịt ăn, rồi nấu cơm cho cả nhà ăn, làm cái gì cũng thoăn thoắt. 

Sau khi cơm nước , buổi tối có thời gian, Hạnh kể cho tôi nghe chuyện lúc Hiền xuống thị trấn Thạch Mỹ đi học rồi quen nhau, hồi đó không có điện thoại không có xe nên Hiền đi bộ để sang gặp Hạnh. Lúc 19 tuổi, Hiền rủ về nhà chơi, thời đó ngã ba Cha Val vào nhà còn chưa có đường bê tông, phải đi đường rừng đường đất rất vất vả, đi bộ từ sáng mà tối mới tới nơi, nhà Hiền lúc đó nghèo không có giường chỉ nằm đất thôi. Xong lúc quay về, Hạnh bảo Hiền “Thôi hay mình không quen nhau nữa, Hạnh đi không nổi”, Hiền lúc đó bảo “Thấy nhà Hiền nghèo nên không quen nữa à”. Hạnh sau thấy tội cho Hiền, nghĩ lại bảo “Gia đình nghèo không phải lỗi của họ, nên thương mà cưới đấy”. Năm 21 tuổi Hiền và bố mẹ xuống nhà Hạnh hỏi cưới dắt theo con bò mà đi bộ từ nhà đến Thạch Mỹ 7 ngày mới tới, lúc đó có đường nhưng nhà Hiền không có xe, mọi người xách theo bao gạo, nồi niêu, rồi vừa đi vừa tìm chỗ nào có nước nấu cơm ăn và ngủ dọc đường. Hồi mới về làm dâu cuộc sống khổ trăm bề. 

Hạnh còn kể về tục lệ của người Cơ Tu: ngày xưa, phụ nữ không sinh con trong nhà mà phải ra một cái lán dựng bên ngoài. Đàn ông không được đến giúp, chỉ có các bà, các mẹ có kinh nghiệm ra đỡ đẻ, và sẽ cắt rốn cho em bé bằng một thanh tre vót mỏng, sắc, chứ không phải bằng dao kéo. Nếu người mẹ còn chảy máu thì có thể phải ở lại lán cả tuần, ăn ở ngay đó; còn nếu không còn chảy máu thì sinh xong là bế con về nhà. Chỗ nhà Hạnh ngày xưa mẹ cũng vậy. Đến khi Hạnh sinh con, Hiền cũng không được giúp vợ, vì “sợ dị”, sợ phạm điều kiêng kỵ và ngại, xấu hổ trước những chuyện như thế. Hạnh nói, lúc ấy tủi thân lắm. Giờ thì phong tục này cũng thay đổi rồi. Xong hồi con gái đầu con đỏ hỏn thì Hiền phải đi học xa mình Hạnh nuôi con, rồi con ốm sốt cao xong Hạnh quyết tâm nhờ người chở đi viện, bác sĩ bảo qua muộn tí thôi là không kịp. Vợ chồng Hạnh bằng tuổi tôi mà nghe chuyện tôi thấy như ở thời nào xa xôi lắm, các bạn nghị lực trải qua nhiều chuyện thật sự. 

Buổi tối chúng tôi đi ngủ sớm để sáng mai còn dậy sớm, lâu rồi tôi không có cảm giác không dùng điện thoại buổi tối, tôi thấy mình thảnh thơi hẳn, chắc lúc nào muốn cai điện thoại thì ở đây thời gian rất hợp lý. Ở đây không sóng, không Internet, không tivi, không có những ánh sáng đèn đường của phố thị, mà chỉ ánh sao, ánh trăng và chút ánh sáng le lói yếu ớt của bóng đèn năng lượng mặt trời, không có âm thanh điện thoại tivi mà không gian tĩnh mịch văng vẳng tiếng gió, tiếng suối chảy róc rách ngay cạnh nhà, tiếng chó, tiếng ếch nhái, tiếng lợn, tiếng vịt, tiếng gà… một bản hoà âm của núi rừng. Tôi ngước nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm giác mình thật nhỏ bé giữa cái mênh mông núi rừng đất trời này. Ngẫm ra vì nơi chưa có điện, chỉ toàn bóng tối này, nên bầu trời sao càng đẹp hơn. Tôi cảm thấy quyết định tôi trở về đây là đúng đắn.

Buổi sáng tôi theo hai vợ chồng Hạnh chạy xe máy đi làm, chú cún nhà Hạnh chạy theo tiễn đến tận đỉnh dốc, rồi tự quay về. Hạnh bảo chúng khôn lắm, ngày nào cũng vậy, ngày nào cũng tiễn đi làm rồi tự biết đường về. Chúng tôi ăn sáng rồi cũng tới Uỷ ban, tôi sau đó lấy xe máy của Hạnh rồi đi đến nhà bà Bling Hia. Lúc tôi đến né may quá có bà và Thuận ở nhà, tôi đưa bà ống sợi bông nhà máy nhưng là bông nguyên chất và đưa bà xem cao chàm. Bà nhìn mãi, sợi bông đối với bà quý lắm, bà trồng bông và mỗi năm bà chỉ làm được một ít bông thôi. Bà sờ cao chàm và ngửi và nói đúng tà ram. Ở đây người Cơ Tu không làm thành cao chàm như những nơi khác, mà sẽ nhuộm tươi luôn, nên bà nhìn cao chàm bà thấy lạ. Tôi có đưa bà xem video cách mọi người làm cao chàm để nhuộm được quanh năm, rồi làm thùng chàm. Bà kể « trước khi mất, mẹ bà dặn đừng bỏ cây kpai, đừng bỏ cây tà ram ». Tiếng Cơ Tu, Kpai là cây bông, Tà râm là cây chàm. Bà nhớ lời mẹ nên vẫn làm, dù các con bà không muốn bà làm nữa vì lưng bà đau, tuổi bà đã cao. Bà nói bà muốn làm, xong bà nắm tay tôi, thấy cháu tội đi đi lại lại, nên bà đồng ý làm cho xem. Tôi không biết tiếng Cơ Tu, còn bà nói ít tiếng Kinh, nên đôi khi bà nói tôi không hiểu chỉ cảm nhận thôi, hoặc nhờ Thuận hoặc cháu My dịch lại. My là cháu ngoại bà, đang học cấp 1 và được nghỉ hè nên ở nhà chơi, tôi thấy bé dễ thương lắm, hay ngồi gần chơi với bà nên tôi nhờ cháu đi theo bà và tôi để dịch.

Ngày đầu, bà dẫn tôi đi hái lá chàm, rửa sạch rồi ngâm vào thùng. Lá phải ngâm ba ngày. Trong lúc chờ, bà chuẩn bị vỏ ốc, ốc thường được nhặt ở suối, người ta ăn xong thì để lại. Ngày thứ 2, tôi và cháu My theo chân bà vào rừng đốt vỏ ốc trên ống nứa. Lúc mới bước vào, một thanh nứa cứa vào ngón chân tôi, máu chảy ra. Bà nói cô cháu gái tè vào lên ngón chân tôi, rồi bà nắm lấy ngón chân tôi chỗ đang chảy máu và niệm chú điều gì đó bằng tiếng Cơ Tu. Tôi hỏi cháu My bà đang nói gì vậy thì My ngập ngừng. Tôi nghĩ có lẽ mình đã bước vào rừng mà quên xin phép, và bà xin hộ tôi, tôi thầm cầu thần linh “Hỡi thần rừng thần núi, hãy cho phép con được ở đây”. Sau đó máu ngừng chảy và tôi tiếp tục bước đi tiếp. Bà chặt nứa rồi xếp nứa thành từng tầng, rải vỏ ốc lên và đốt. Chúng tôi đợi chảy hết rồi cũng nhặt vỏ ốc vào giỏ. Vỏ ốc đen sau khi đốt sẽ chuyển sang màu trắng tinh. Sau khi mang vỏ ốc về, bà sẽ sàng để loại vỏ ốc còn đen, sau đó bóp vỏ ốc nhỏ, làm nhuyễn thành thứ bột mịn như tro. Sau khi làm xong tro vỏ ốc, bà sẽ lọc nước tro bếp. Bà sẽ cho tro bếp từ loại bếp củi, bà lấy tro bếp hoà với nước, sau đó để qua đêm để tro bếp lắng xuống, và lọc lại nhiều lần để nước trong. Mỗi ngày bà ra đảo lá chàm, xem lá đã mục đến đâu, bà nói sau 3 ngày là có thể nhuộm được. Song song, bà chuẩn bị sợi, kéo sợi từ ống ra để căng sợi dọc, bà Pá và các con gái chị Ớt, chị Yên và con dâu Thuận cùng giúp bà căng sợi, bà hơ lá cây để buộc lá sợi dọc tạo hoa văn, bà Pá và bà Hia nói chuyện bàn bạc buộc sao cho đẹp, những đoạn sợi được buộc bằng lá sẽ giữ không cho ăn màu chàm và có màu nguyên bản của bông, nên tùy từng cách buộc thì hoa văn sẽ khác nhau. 

Khi biết có thể nhuộm chàm được, tôi báo với anh chị em trong nhóm để mọi người nếu có thể sắp xếp để cùng lên xem bà nhuộm. Nên ngày thứ 3, vợ chồng anh Thắng và cô con gái nhỏ cũng kịp thời đi xe máy từ sáng để tới buổi trưa đến nơi, và buổi chiều cùng xem bà nhuộm chàm. Mọi thứ đã sẵn sàng, lá chàm đã mục, bà vớt lá, pha với nước tro bếp trong và bột vỏ ốc, rồi khuấy. Khi khuấy, bà lại niệm chú bằng tiếng Cơ Tu. Tôi không hiểu lời bà, nhưng cảm giác như bà đang nói chuyện với thùng chàm, cầu cho chàm ăn màu, cho màu lên đẹp. Tôi thấy như có một linh hồn trong thùng chàm. Rồi bà nhúng sợi vào nước lá chàm, nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần và phơi khô. Khi nhuộm xong, chúng tôi ai cũng vui mừng, vậy là chúng tôi làm được rồi. Thật may mắn cả 3 ngày chuẩn bị đến lúc nhuộm trời không mưa, đến khi nhuộm xong cuối chiều có vài hạt mưa rồi trời bừng nắng, tôi chạy ra ngoài khoảng sân rộng xem có cầu vồng không thì thấy ôi chao cầu vồng kép. Thật màu nhiệm!  Tôi chạy vào gọi mọi người, gọi bà, gọi bé My, gia đình anh Thắng ra sân xem cầu vồng. Khung cảnh hôm đó đẹp vô cùng, chúng tôi đi dạo quanh thôn, tụi trẻ chơi thể thao, đá bóng, chạy nhảy, đạp xe trong khoảng sân rộng giữa thôn trước nhà Gươl. Nhìn chúng chơi đùa tự do, tôi thấy lòng nhẹ bẫng.

Buổi tối vợ chồng Hạnh cũng rủ vợ chồng anh Thắng qua ăn tối và ở cùng cho vui, hàng xóm hôm đó còn mang rượu Tà Vạc hay còn gọi là “rượu trời”, “rượu trên cây” mời chúng tôi, một loại rượu không phải nấu, mà là phần dịch ngọt tiết ra từ cuống hoặc buồng hoa non của cây, sau đó đem ủ lên men tự nhiên cùng với một số loại vỏ cây rừng (như vỏ cây chuồn) để tạo thành thức uống có vị ngọt, đắng nhẹ và nồng thơm. Hôm đó, Hạnh cũng đi kiếm lá để buổi chiều đắp cho khách, nên tối còn ít lá còn lại, Hạnh cũng hơ và đắp lá giúp chúng tôi cho khỏe, đỡ đau nhức, chuẩn bị cho chặng đường về đỡ mỏi mệt. Mùi lá thơm, cộng hơi ấm tỏa ra từ lá vừa được hơ trên lửa khiến cơ thể dãn ra dễ chịu. Tối hôm đó bầu trời cũng thật đẹp, trăng sáng, chúng tôi ngồi trò chuyện râm ran ở chòi lá ngoài sân. Hôm sau, chúng tôi chào tạm biệt bà Hia và gia đình Hạnh để trở về lại Hội An và hẹn ngày hội ngộ trong workshop tour đợt tới.

Tri ân 

Sau chuyến đi ấy, dự án có một bước tiến vượt bậc. Tôi có thể hoàn thiện video ở Công Dồn nhờ em Thuận cập Nhật thêm đoạn video bà dệt ikat. Mạnh đã làm video ở Dhroong và Brohoong. Postcard được in từ ảnh chụp của Phúc và a Thắng. Chị Quỳnh đã hoàn thiện thiết kế váy với vải dệt cườm của nhóm Dhroong và chúng tôi có 2 tấm vải ikat của nhóm Công Dồn. Phúc đã giúp tôi sắp đặt không gian showcase tại Rainbow đến tận 4h sáng. Thực sự tổ chức xong showcase và workshop tour 3 ngày 2 đêm với tôi là một kỳ tích. Dự án đi được đến đó nhờ rất nhiều người góp thời gian, công sức, tấm lòng. Cảm ơn bà Bling Hia, người đã cho tôi xem những điều tôi chưa từng được xem. Cảm ơn Hạnh và Hiền đã cho tôi ở nhờ, hỗ trợ không tính toán. Cảm ơn những người tôi gặp, kết nối, hỗ trợ, đồng hành cùng tôi. 

Hai năm trôi qua, mỗi người một nơi, có những người lâu rồi tôi chưa gặp và nói chuyện. Đã 2 năm tôi chưa quay lại Công Dồn, và Dhroong mỗi năm tôi đều có dịp đến 1 lần nhưng câu chuyện về khôi phục lại sợi bông và chàm ở đây vẫn còn bỏ ngỏ. Khi viết lại hồi ức này, có nhiều điều tôi đã quên đi ít nhiều. Tôi đã gọi lại cho em Thuận để liên hệ với bà Hia và liên hệ với Hạnh để hỏi ý kiến mọi người về những điều tôi chia sẻ, liệu tôi có cần sửa lại gì không. Tôi biết mọi người đã tin tưởng chia sẻ cho tôi rất nhiều những điều thâm cung bí sử, nhưng tôi cũng biết mình cần hỏi sự đồng thuận trước khi kể ra ngoài. Và cảm ơn người bạn đã nhắn cho tôi về đoạn video ở Công Dồn, lựa chọn để trình chiếu trong triển lãm. Nhờ tin nhắn ấy tạo thêm động lực cho tôi viết lại hành trình này.

📸 Ảnh chụp bởi Nguyễn Huyền, Quang Thắng, Phúc Phúc trong những chuyến đi thực địa và trải nghiệm workshop tại thôn Công Dồn, tỉnh Quảng Nam, năm 2024.